Nghề truyền thống gắn liền với lịch sử vững mạnh văn hóa của đất nước. Qua các giai đoạn, người làm nghề hun đúc và hội tụ kinh nghiệm để làm cho nên cách gia truyền lưu lại cho những thế hệ sau.
Thừa kế các tinh hoa của những thế hệ đi trước, hậu nhân sẽ tiếp diễn bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị trân quý của nghề, theo tin báo mới nhất. Có thể tìm hiểu thêm tin báo mới nhất tại https://trithucvn.net/
Làng Kiêu Kỵ nằm ở phía bờ Bắc sông Hồng, bí quyết trọng tâm Hà Nội khoảng 15 km. Phía Đông giáp làng Trí Trung, phía Tây giáp làng Ngọc Động phường Đa Tốn, phía Nam giáp làng Gia Cốc, phía Bắc giáp con đường 5, gần làng Dương Xá.
Xưa kia dân làng Kiêu Kỵ cũng là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng châu thổ sông Hồng nên cuộc sống của họ còn gặp đa số khó khăn do thiên tai dịch họa. Trong tiến trình lịch sử ngừng thi côngĐây, dân làng Kiêu Kỵ đã xây dựng cho mình 1 cuộc sống giàu có và phồn thịnh vượng nhờ những nghề thủ công, đồng thời tạo lập được một nền văn hoá truyền thống phong phú phổ quát.
Nghề quỳ vàng bạc ở Kiêu Kỵ cũng trải qua các bước thăng trầm. Đặc trưng chỉ mất khoảng chiến tranh, nghề quỳ vàng bạc chẳng những kém tăng trưởng mà còn với nguy cơ bị mai 1 đi phổ quát. Phải đến sau chiến tranh, thì dân làng Kiêu Kỵ mới tiếp diễn hồi phục lại nghề quỳ vàng bạc cựu truyền. Từ chỗ chỉ mang chưa đầy một chục hộ khiến cho quỳ nhỏ lẻ, tới các năm mới đây làng đã mang tới trên 60 hộ làm cho quỳ vàng bạc. Trong chậm triển khai mang 1 số hộ đã trở lên khá kém chất lượng nhờ biết phát huy nghề tay chân truyền thống của thánh sư để lại.
Lịch sử nghề quỳ vàng bạc
Theo tin báo mới nhất, Nghề quỳ vàng bạc xuất hiện ở làng Kiêu Kỵ cách đây trên 300 năm, dưới thời Hậu Lê. Thuở ấy sở hữu ông Nguyễn Quý Trị, người làng Hội Xuyên, phường Liễu Trai Hải Dương, đỗ tiến sĩ vào năm Quý Mùi, thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786) khiến quan đến chức Binh bộ Tả Thị lang – Hàn lâm Viện trực học sĩ. Trong một lần Nguyễn Quý Trị đi sứ bên Trung Hoa thì học được nghề dát dập vàng bạc để sơn son thiếp vàng những đồ thờ cúng và hoành phi, câu đối… khi về nước, ông truyền lại nghề này cho dân làng Kiêu Kỵ.
Sau khi ông Nguyễn Quý Trị truyền nghề quỳ vàng bạc cho dân làng, ngày 17/8 âm lịch năm Đó ông bỏ đi đâu không ai rõ tung tích. Để hoài tưởng đến công ơn của ông, dân làng Kiêu Kỵ đã suy tôn ông là Tổ nghề quỳ vàng bạc, và lấy ngày ông mất tích năm chậm tiến độ khiến cho ngày giỗ Tổ hàng năm. Xưa kia, việc lo cúng lễ vào dịp giỗ Tổ nghề do dân của 4 chạ: chạ Đông, chạ Nam, chạ Đoài và chạ Bắc của làng cùng nhau đảm nhiệm.
Theo tin báo mới nhất, những cụ già có đa dạng thâm niên trong nghề quỳ vàng bạc đề cập lại rằng đây là một nghề duy nhất ở nước ta. Kiêu Kỵ lưu truyền giữ giàng được nghề cho đến hiện tại là vì dân làng luôn giữ vững lời nguyền của cha ông nghề khi xưa để lại. Tại nơi cột chiếc của nhà Tràng của cụ Nguyễn Quý Trị với đóng một dòng đinh chiếc răng bừa dài 15 cm có lời thề rằng: “không người nào được truyền nghề này ra ngoài”. Sau này nhà Tràng trở thành nơi thờ tự Tổ nghề.
Theo tin báo mới nhất, tương truyền rằng ông Nguyễn Quý Trị rất khôn thiêng. Người dân trong làng người nào muốn học khiến cho nghề quỳ vàng thì đều phải khiến lễ khấn Tổ nghề. Nếu như ai không khiến cho lễ khấn Ngài thì khi đập quỳ sẽ đập vào tay, và người ta cho rằng ấy là Ngài mang ý la rầy, ko cho theo nghề này nữa.
thứ tự gia công làm quỳ vàng bạc
Theo tin báo mới nhất, thứ tự gia công quỳ vàng bạc phải qua 11 khâu chính và hàng chục khâu phụ:
1. Chế biến mực: Người ta đem nhựa thông nhào mang mạt cưa, viên lớn bằng ngón chân dòng. Sau ngừng thi côngĐây lấy dòng chảo gang treo lên cao khoảng 15 – 20 cm trong bếp lò để hứng mồ hóng, rồi lần lượt đốt các viên nhựa thông trộn mùn cưa cho khói đen bốc lên quy tụ bám vào đáy chảo.
Nghề cổ Đất Việt – Kỳ 8: Quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ – bí mật độc nhất vô nhị
Bếp lò tiêu dùng để đốt nhựa thông được xây bằng gạch cao 1,2 – 1,4 m, rộng 1,5 – 2,2 m, để sở hữu thể treo được 4-5 mẫu chảo dòng nhỏ có trục đường kính là 30 cm. Cửa lò rộng chạy dọc theo thân lò, với tấm tôn che cho kín gió khi đun, phía trên sở hữu mái che kín và xây 1 ống thông khói. Đốt hết 10 kg nhựa thông mới được 1 lạng mồ hóng cái một hay còn gọi là mực dòng (đọng ở vùng giữa đáy chảo) và 1 ít bồ hóng dòng 2 hay còn gọi là mực con (đọng ở quanh đó đáy chảo). Mồ hóng chiếc một sử dụng làm cho mực lướt lá quỳ giống mới rẻ, còn bồ hóng chiếc hai sử dụng để chế thành mực viết các văn bản chữ Nho và chữ Nôm cũng thấp ko thua sút gì mực Tàu chính hiệu. Chính vì thế mà với người đã lầm tưởng rằng ở làng Kiêu Kỵ xưa kia có cả nghề làm cho mực Tàu.
Sau chậm tiến độ lấy 1 bộ da trâu cho vào nồi lớn, đổ nước ngập da, rồi chất củi vào bếp nấu kĩ thành keo đặc quánh. Việc nấu da trâu cho đến lúc thành keo phải kéo dài cả ngày đến hàng chục giờ đồng hồ mới được. Cách đây không lâu keo da trâu cô đặc sấy khô tậu ở phường Thuỵ Khuê rất tiện không hề nấu như trước nữa.
Bước tiếp theo người ta đem mồ hóng nhào có keo da trâu cho thật nhuyễn theo 1 tỉ lệ cố định, rồi đem lọc kĩ loại bỏ cặn hay các cục vón đi. Rồi đem hổ lốn này cho vào nồi đun sôi lăm tăm, cô đặc. Sau chậm tiến độ lại lấy keo mực ra cho vào cối giã thật kĩ như giã giò thành keo đen đặc quánh, thời gian giã mực kéo dài khoảng 6-7 giờ đồng hồ mới xong một cối. Sau Đó đem thứ bột đen mịn này nhào với keo da trâu theo tỉ lệ nhất quyết thành mẫu chất lỏng màu đen sẫm đặc sánh; rồi lại lấy xô màn lọc kĩ 1 lần nữa.
Từ khóa: tin bao moi nhat. Có thể tìm hiểu thêm tin bao moi nhat tại https://trithucvn.net/
